Tuesday, October 15, 2013

Nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn mẫu và giám sát nợ công tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đấu xây dựng các công cụ quản lý nợ, từng bước hiệp với thông lệ quốc tế

Nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công tại Việt Nam

Trong thời gian vừa qua, công tác giám sát nợ đã thực hành một cách chủ động và tích cực. Thứ chín  ,   tăng cường hệ thống quản trị trong quản lý nợ công: tăng cường thực hành các chuẩn mực quốc tế về quản lý nợ công; tăng cường thông báo đối ngoại về nợ công của Việt Nam.

Việc tự động hóa một số công đoạn trong quy trình giám sát vẫn đang ở thời đoạn triển khai bước đầu. Giải pháp nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ     Thứ nhất  ,   hoàn thiện thể chế chính sách và phương tiện quản lý nợ: tiếp tục sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đối với nguồn vốn vay nợ. Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu chung phục vụ công tác giám sát nợ.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng tiến hành phân loại nợ bị rủi ro tín dụng, ban hành tiêu chí đánh giá, xếp hạng về khả năng trả nợ của người vay lại, người được bảo lãnh để từ đó đưa ra các xử sự ăn nhập với từng đối tượng.

Thứ hai  ,   nối hoàn thiện bộ máy cơ quan quản lý nợ, trong đó phân định rõ nghĩa vụ của các cơ quan thực hiện công tác giám sát nợ. Thứ ba  ,   nâng cao hiệu quả huy động và dùng vốn vay: khắc phục bất hợp lý trong tổ chức huy động, phân bổ, dùng, quản lý, trả nợ; Xây dựng chương trình đầu tư công trên cơ sở kiểm tra lại các chương trình đích.

Giờ, Bộ Tài chính vẫn chưa có các phần mềm chuyên biệt để xử lý công việc một cách tự động trong một số khâu cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại, đặc biệt là tính thủ công trong giám sát nợ.

Thứ tám  ,   đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đương đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động cơ quan quản lý nợ: đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai quy trình, kì hạn trách nhiệm xử lý các thủ tục liên tưởng đến thực hiện các chương trình/dự án dùng nguồn vốn vay; thẩm tra và loại bỏ những quy định về thủ tục xét duyệt không cần thiết trong duyệt y dự án, trình tự, thủ tục rút vốn.

Trong thời gian qua, công tác giám sát nợ đã thực hiện một cách chủ động và hăng hái. Thứ sáu  ,   đẩy mạnh phát triển thị trường trái khoán trong nước: trong đó, việc phát triển thị trường trái khoán sơ cấp cần được Chính phủ, Bộ Tài chính đặc biệt lưu tâm và ưu tiên hàng đầu.

Bên cạnh đó vẫn chủ động trích lập, bố trí nguồn phòng ngừa để trả nợ. Bên cạnh đó, phải đồng thời phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng cường tính thanh khoản và sáng tỏ của thị trường trái khoán. Thứ bảy  ,   chú trọng công tác quản lý nợ chính quyền địa phương (CQĐP): hoàn thiện cơ chế huy động vốn vay và trả nợ vốn vay CQĐP; đa dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư phát triển: phát hành trái phiếu CQĐP, BOT, BTO, BT, PPP…; tập trung nguồn vốn đầu tư vào những công trình trung tâm/thúc bách/có hiệu quả kinh tế cao, hoàn tất trong giai đoạn 2011 – 2015; không huy động thêm vốn để đầu tư các công trình mới/không thực sự thúc bách.

Thứ ba,  hợp quan điểm và đích của Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Thứ hai,  đáp ứng đòi hỏi đối với công tác quản lý nợ theo yêu cầu của Luật Quản lý nợ công.

Theo Kiểm toán Cuối tháng. Thứ năm  ,   tăng cường công tác giám sát và quản lý rủi ro về nợ công như: nghiên cứu, xây dựng và khai triển phương án xử lý rủi ro (chuyển đổi nợ thành viện trợ/đầu tư, mua bán nợ, hoán đổi nợ); đặc biệt thời kì vừa qua, Ngân hàng Nhà nước rất thành công trong việc hoán đổi nợ đối với trái phiếu Chính phủ nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường trái khoán trong nước.

Thứ tư  ,   kiểm soát chém việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ: chỉ xem xét cấp bảo lãnh vay đối với các dự án cấp bách, các công trình trung tâm quốc gia và đưa ra các biện pháp xử lý cụ thể đối với dự án gặp khó khăn trong việc trả nợ đến hạn. Việc giám sát tình hình tuân thủ của các chương trình/dự án, người vay, người được bảo lãnh vẫn còn nhiều khuyết thiếu như chơi phát hiện ra các sai phạm hay phát hiện không kịp thời do chưa có phần mềm để quản lý, soát, đánh giá rủi ro.

Nguồn: internet  Sự cần thiết giám sát an toàn nợ công   Thứ nhất,   giám sát nợ công xuất hành từ thực trạng các hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.

No comments:

Post a Comment