Cách sắc (nấu) những bài thuốc trên như sau: Nước thứ nhất cho các vị thuốc vào 4 chén nấu còn 1 chén, cho nước thuốc ra. Tiếp nữa là thể tỳ hư, thường có những triệu chứng như: Đau bụng, (xoa ấn thì dễ chịu), người mỏi mệt, chán ăn, tiêu chảy, phân sống, rêu lưỡi dày. Hòa hai nước lại chia làm 3 lần uống trong ngày. Ngoài ra, một số triệu chứng khác cũng có thể gặp như: Chán ăn, bụng đầy, buồn nôn, người gầy, mỏi mệt có khi sốt nhẹ, thiếu máu.
Thể can tỳ bất hòa, có những trình bày: ỉa chảy thường xảy ra sau khi ý thức bị tác động, đau bụng, tiêu xong hết đau kèm theo ngực bụng đau tức, chán ăn, có thể ợ chua, bụng sôi hoặc phân xanh, rêu lưỡi trắng mỏng. Còn thể thấp nhiệt - thường gặp lúc bệnh mới bắt đầu, với các mô tả: Sốt, đau bụng, ỉa chảy hoặc mót rặn, phân có máu.
). Những thể bệnh và biện pháp chữa trị Trên lâm sàng thường gặp các thể bệnh sau: Thể thận hư, có các triệu chứng: tiêu chảy kéo dài nhiều ngày (thường xảy ra lúc sáng sớm), bệnh nhân sợ lạnh, sắc mặt nhợt, lưng đau, gối mỏi, tai ù, thính lực giảm. Cơn đau bụng có thể là âm ỉ hoặc đau quặn từng cơn, thường ở vùng bên trái bụng dưới, phân thường có máu. Phép trị là "bổ tỳ, tiêu thực", dùng bài thuốc "sâm linh bạch truật tán gia giảm", gồm các vị thuốc: Nhân sâm, sa nhân (cùng 8g), bạch truật, hoài sơn, bạch linh, bạch biển đậu, liên nhục, cốc nha (cùng 12g), mộc hương 4g.
Về chẩn đoán, đốn dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả soi chụp đại tràng, trực tràng (niêm mạc xung huyết, loét, chất máu mũi, niêm mạc biến dạng).
Nước nhì cho 3 bát nước vào tiếp nấu còn nửa bát. Một số ít trường hợp, trong lúc bệnh có thể diễn tiến nặng đột ngột (ỉa chảy vài chục lần/ngày, sốt cao, nôn nhiều, mất nước, rối loạn điện giải. Phép trị ở thể này là "ôn thận, sáp trường", dùng bài thuốc "tứ thần hoàn gia vị", gồm các vị thuốc: Chế phụ tử (sắc trước), nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ, xích thạch chi (cùng 12g), ngô thù du 5g, hậu phác 10g, gừng lùi 6g.
Đặc điểm của bệnh là tiêu chảy, với mức độ nặng nhẹ khác nhau, có thể kèm theo đau bụng, hoặc mót rặn. Phép trị thể này là "thanh lợi thấp nhiệt", dùng bài thuốc "cát căn cầm liên thang", gồm các vị thuốc: Cát căn 16g, hoàng cầm 14g, hoàng liên 4g, chích thảo 6g. Phép trị cho thể này là "sơ can, hòa vị", dùng bài thuốc gồm các vị: Phòng phong, bạch truật, bạch thược, bắc sài hồ (cùng 12g), ý dĩ 16g, tiêu sơn tra 12g, trần bì 8g.
No comments:
Post a Comment